Ngưỡng mộ và noi theo tấm gương yêu nước, yêu lịch sử dân tộc của Bác Hồ

 

 

                       NGƯỠNG MỘ VÀ NOI THEO TẤM GƯƠNG

              YÊU NƯỚC,  YÊU LỊCH SỬ DÂN TỘC CỦA BÁC HỒ

                

                                                          Nguyễn Thị Vân Anh

                                         (Trường THPT Ngô Quyền, TP. Thái Nguyên) 

             

                 Ngày  28-1-1941, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh trở về Tổ quốc, sau 30 năm bôn ba khắp thế giới tìm đường cứu nước. Qua biên giới Việt – Trung, Người dừng chân ở vùng núi Pác Bó, Cao Bằng. Tại đây, ngoài việc vận động, tuyên truyền, giáo dục tinh thần yêu nước và ý chí chống giặc cứu nước cho đồng bào các dân tộc, Người còn tổ chức các lớp huấn luyện cán bộ cho cách mạng. Đồng thời, tờ báo Việt Nam độc lập (VNĐL), cơ quan ngôn luận của “Việt Nam độc lập đồng minh”, gọi tắt là Việt Minh cũng được ra đời. Tờ báo này đăng nhiều bài thơ của Bác, trong đó có những bài ca kêu gọi các tầng lớp nhân dân, như: dân cày, công nhân, binh lính, phụ nữ, phụ lão, thiếu niên nhi đồng...làm việc theo khả năng của mình để góp phần chống Pháp, giải phóng đất nước. Đặc biệt, để khơi dậy lòng yêu nước, tự hào dân tộc, tinh thần đoàn kết đánh giặc cứu nước của toàn dân, Bác Hồ đã viết bài thơ lục bát, nhan đề Lịch sử nước ta, đăng trên số 117 báo VNĐL, ra ngày 1- 2- 1942, dài 210 câu, được giới thiêu là “quyển” Lịch sử nước ta, giá bán 1 hào.

                Mở đầu Lịch sử nước ta, tác giả viết:

                                                  Dân ta phải biết sử ta

                                     Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam...

                Tiếp theo là một đoạn rất dài kể về việc dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt: từ thời Hồng Bàng đến một nghìn năm bị Tàu đô hộ, rồi chuyển sang thời kì giành được độc lập, và sau đó liên tiếp có các cuộc chống xâm lược phương Bắc với tên tuổi của các anh hùng đã lập nên những chiến công lừng lẫy.

                Nhưng “nay” (đến thời điểm 1942), nước Việt ta bị mất vào tay thực dân Pháp là do vua quan nhà Nguyễn đã “rước Tây vào nhà” từ nửa sau thế kỉ XIX. Trong cảnh “nước mất nhà tan” đã 80 năm ấy, dân ta vô cùng lầm than, đau khổ. Song, với truyền thống bất khuất chống giặc ngoại xâm, nhiều cuộc khởi nghĩa chống Pháp đã diễn ra, tiêu biểu như: Hoàng Diệu, Nguyễn Tri Phương ở Hà thành, Phan Đình Phùng ở Hương Khê (Hà Tĩnh), phong trào Cần Vương giúp vua Hàm Nghi đánh Pháp, Tán Thuật ở Hưng Yên, Hoàng Hoa Thám ở Yên Thế, khởi nghĩa của binh lính ở Hà Nội, Thái Nguyên, rồi khởi nghĩa Yên Bái của Nguyễn Thái Học, và gần nhất là khởi nghĩa Đô Lương, Nam Kỳ, Bắc Sơn... Tất cả đều không thành công là do đã nổ ra rải rác, thiếu sự hợp sức, đồng lòng để thành một lực lượng to lớn.

               Ở gần cuối Lịch sử nước ta, tác giả viết:

                                           Xét trong lịch sử Việt Nam

                                     Dân ta vốn cũng vẻ vang anh hùng

                                          Nhiều phen đánh bắc dẹp đông

                                    Oanh oanh liệt liệt con Rồng, cháu Tiên...

                Vậy mà “Nay ta đến nỗi nghèo hèn/ Vì ta chỉ biết lo yên một mình/ Để người đè nén xem khinh/ Để người bóc lột ra tình tôi ngươi.

                Giờ đây, thời cơ tự giải phóng đã đến: Pháp đã bị Đức đánh chiếm, không đủ sức cai trị ta; Nhật thì mới vào, nền thống trị của chúng “chưa ra mối mành” gì; Còn các nước Tàu, Mỹ, Hà Lan, Anh đều đang có chiến tranh, “Ấy là dịp tốt cho ta/ Nổi lên khôi phục nước nhà tổ tông”. Cơ hội ấy hé mở cho ta  niềm tin ở khả năng thắng lợi:  

                                           Người chúng ít, người mình đông

                                           Dân ta chỉ biết đồng lòng là nên

                                           Hỡi ai con cháu Rồng, Tiên

                                          Mau mau đoàn kết vững bền cùng nhau...

                  Có số đông, có sự đồng lòng, đồng chí, lại thêm  “Người giúp sức, kẻ giúp tiền” và “Chúng ta có hội Việt Minh”/ Đủ tài lãnh đạo dân mình đấu tranh, thì sự nghiệp cứu nước nhất định thành công! Bốn câu kết của bài thơ tràn đầy niềm hy vọng và tự hào:

 Mai sau sự nghiệp hoàn thành

 Rõ tên Nam Việt rạng danh Lạc Hồng

 Dân ta xin nhớ chữ đồng

 Đồng tình, đồng sức, đồng  lòng, đồng minh.

                 Đọc Lịch sử nước ta, người dân Việt Nam vô cùng ngưỡng mộ lòng yêu nước, yêu lịch sử dân tộc của Bác Hồ, vì:

                - Năm 1911, chàng thanh niên 21 tuổi Nguyễn Tất Thành (tên của Bác lúc đó)  đã một mình đi đến trời Âu, khi chưa từng biết, từng trải về xứ sở này. Hiểu rõ hoàn cảnh của mình, Nguyễn Tất Thành (Văn Ba) đã rủ người bạn thân đi cùng, phòng khi bất trắc, hiểm nguy để nương tựa vào nhau. Nhưng người bạn ấy đã từ chối. Nghị lực phi thường được hun đúc từ lòng yêu nước mãnh liệt, sâu sắc đã giúp Văn Ba dấn bước lên con tầu, để lại bao lưu luyến với quê hương, đất nước, bạn bè và cả Út Huệ thân thương ở Sài Gòn nữa!

                  Ba mươi năm ở  nước ngoài, phải kiếm sống vô cùng vất vả, phải bận rộn với bao nhiêu công việc, đề phòng sự theo dõi của mật thám, rồi di chuyển từ nước này đến nước khác, lại bị ngồi tù... thì làm sao Nguyễn Ái Quốc có điều kiện, có thời gian để ôn lại lịch sử Việt Nam? Khi về nước (1941), sống ở hang Pác Bó, không có nguồn sách vở nào để tra cứu sử liệu, ấy thế mà trong bài Lịch sử nước ta, các triều đại, các sử kiện cứ hiện ra, tuôn chảy “theo dòng lịch sử” một cách rõ ràng, mạch lạc. Phải có tình yêu bao la, sâu nặng đối với đất nước, nhân dân mình và có một trí nhớ kì tài từ khi học môn Sử ở trường tiểu học Vinh, Quốc học Huế trong khoảng 7, 8 năm đầu thế kỉ XX thì tác giả mới có cái vốn kiến thức lịch sử để viết được như thế!

               - Lòng yêu nước, vốn sử học, trí nhớ siêu đẳng đã kết hợp và hòa  quyện với nhau trong con người Bác để tạo nên 210 câu thơ lục bát ở Lịch sử nước ta. Lại càng ngạc nhiên, ngưỡng mộ hơn về phẩm chất ấy của Người khi ta đọc tiếp những dòng chú thích có độ chính xác lịch sử cao ở dưới bài thơ, với tiêu đề Những năm quan trọng:

                Hồng Bàng... trước Tây lịch: 2897;  Tàu lấy nước ta lần đầu: 111 ; Hai Bà Trưng đánh tàu: 40; Vua Lý đánh Tàu: 544; Tàu lấy nước ta: 603; Vua Ngô khởi nghĩa: 939; Đời vua Đinh 12 năm: 968; Đời vua Tiền Lê 29 năm: 981; Đời vua Hậu Lý 215 năm: 1010; Lý Thường Kiệt đánh Tàu: 1073; Đời vua Trần 175 năm: 1225; Trần Hưng Đạo đánh Tàu: 1283; Tàu lấy nước ta: 1407; Vua Lê khởi nghĩa: 1427; Đời vua Hậu Lê 360 năm: 1543; Vua Lê Chúa Trịnh: 1545; Đời vua Tây Sơn 24 năm: 1771; Vua Quang Trung đánh Tàu: 1789; Gia Long thông với Tây: 1794; Tây bắt đầu đánh nước ta: 1847; Vua nhà Nguyễn bắt đầu hàng Tây: 1862;  Ông Đề Thám khởi nghĩa: 1889; Ông Phan Đình Phùng khởi nghĩa: 1893; Trung kỳ khởi nghĩa: 1916; Thái Nguyên -  Sầm Nưa: 1917; Yên Bái và Nghệ An khởi nghĩa: 1930; Bắc Sơn và Đô Lương khởi nghĩa: 1940; Nam  kỳ khởi nghĩa: 1941; Việt Nam độc lập: 1945.

                - Kỳ diệu thay, ở dòng cuối cùng của mục “Những năm quan trọng” của lịch sử Việt Nam, tức là những niên đại đáng ghi nhớ nhất của mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước, tác giả đã thêm vào cuối mục này một sự kiện (Việt Nam độc lập), một niên đại (1945), tức là còn 3 năm nữa mới xảy ra! Đây chẳng khác nào lời tiên tri, lời sấm truyền của một vĩ nhân!  Và đúng năm 1945, ngày 2- 9, Việt Nam đã thực sự là nước tự do độc lập! Người đọc bản Tuyên ngôn độc lập  khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, chính là Chủ tịch Hồ Chí Minh, tác giả bài thơ Lịch sử nước ta, ra đời năm 1942.

                Ngưỡng mộ và noi theo tấm gương yêu nước, yêu lịch sử dân tộc của Bác Hồ, các thế hệ người Việt Nam không  thể làm được những điều như Người đã làm trong quá khứ, vì lịch sử một đi không trở lại. Trong điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của mình, mỗi người chúng ta chỉ có thể làm những việc tốt hằng ngày dù là nhỏ, nhưng luôn hướng đến tinh thần yêu nước, yêu lịch sử dân tộc để góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam muôn năm bền vững!

Tác giả: Nguyễn Thị Vân Anh
Nguồn: thptngoquyen.thainguyen.edu.vn
Bài tin liên quan
Chính phủ điện tử
Tin đọc nhiều
Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 3
Hôm qua : 215
Tháng 06 : 6.876
Năm 2021 : 35.641